Mối quan hệ giữa lập pháp với hành pháp

Khái quát về nghị viện: Mối quan hệ với hành pháp
Nguyên Lâm
http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=69&ItemId=215456&GroupId=1650

Liên quan tới tương quan giữa lập pháp và hành pháp, có thể nói đến ba mô hình nghị viện theo nguyên tắc phân chia quyền lực.
Mô hình thứ nhất gồm nghị viện các nước thuộc chính thể đại nghị. Dấu hiệu chính của chính thể này là chế định trách nhiệm chính trị của Chính phủ và ngược lại là chế định giải thể nghị viện. Nghị viện ở những nước này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành Chính phủ. Chính phủ cần nhận được sự tín nhiệm của Nghị viện, vì vậy bất kỳ sự thay đổi nào về tương quan lực lượng trong Nghị viện cũng gây ảnh hưởng đến thành phần của Chính phủ (đặc biệt ở các nước có Chính phủ liên hiệp, đa đảng). Nguyên thủ quốc gia ở những nước này không nắm quyền lực hành pháp thực tế trong tay và chỉ có những thẩm quyền đại diện, lễ tân thuần tuý. Ví dụ điển hình cho mô hình này là Nghị viện Anh. Ngoài ra, mô hình này còn tồn tại ở nhiều nước phát triển như Áo, Đức, Ý, Bungary, Hungary, Mondova...

Mô hình thứ hai hoạt động ở các nước với chính thể cộng hoà tổng thống lấy nguyên tắc phân chia quyền lực tuyệt đối làm cơ sở cho việc tổ chức quyền lực nhà nước. Ở những nước này không có trách nhiệm tập thể của Chính phủ trước Nghị viện, bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ và sự giải tán Nghị viện. Điển hình cho mô hình này là Quốc hội Mỹ. Ở nước này hệ thống kiềm chế và đối trọng phản ánh khá chính xác tương quan giữa ba nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Như trên đã nói, ở Mỹ không có giải thể Quốc hội, nhưng Tổng thống có quyền phủ quyết tương đối các đạo luật của Quốc hội (có thể bị Quốc hội vượt qua). Một số quan chức do Tổng thống bổ nhiệm với sự đồng ý của Quốc hội.  Quốc hội không thể bắt buộc Tổng thống từ chức, nhưng lại có quyền luận tộiTổng thống. Ở các nước Châu Mỹ La tinh người ta còn gọi hệ thống quyền lực nhà nước là hệ thống “siêu Tổng thống”. So với Mỹ, ở đây quyền lực lập pháp của Quốc hội yếu hơn đáng kể và trên thực tế phục tùng Tổng thống.


Xu hướng chung ở nhiều nước là cố gắng hạn chế những điểm yếu của hai mô hình trên và kết hợp những nét tích cực, làm cho bộ máy nhà nước trở nên linh hoạt và ổn định hơn. Như một số nhà lý luận nhận xét, để quản lý nhà nước có hiệu quả, quan trọng là không chỉ phân chia quyền lực và hệ thống kiềm chế và đối trọng, mà còn là sự thiết lập mối liên kết, thống nhất tương hỗ trong hoạt động của các cơ quan nhà nước.   


Mô hình thứ ba gồm các cơ quan lập pháp ở các nước với hình thức chính thể hỗn hợp. Mối quan hệ giữa cơ quan lập pháp và hành pháp ở đây có những đặc điểm của hai mô hình kể trên. Trách nhiệm tập thể của Chính phủ trước Nghị viện được khẳng định, nhưng Tổng thống cũng có những  quyền hạn quan trọng gắn liền với hoạt động của Nghị viện. Ví dụ điển hình cho mô hình này là nước Pháp. Ngoài ra, thuộc nhóm này còn có các nước trước đây là thuộc địa của Pháp ở Châu Phi. Nước Nga hiện nay, một số nước thuộc Liên Xô cũ, Bồ Đào Nha, Phần Lan... cũng có thể xếp vào nhóm này.


Yếu tố đảng phái có ảnh hưởng đáng kể trong tương quan giữa Nghị viện và hành pháp, đặc biệt ở các nước có Chính phủ đa số sử dụng chế định giải tán nghị viện. Nhưng nếu xét từ mặt khác, giải tán nghị viện là con dao hai lưỡi đối với Chính phủ. Vì một lẽ rất đơn giản: liệu Chính phủ đó còn có đa số nữa hay không trong Nghị viện sẽ được bầu lại? Bởi vậy, giải tán Nghị viện là một động thái mạo hiểm đối với Chính phủ đa số và không một Chính phủ nào áp dụng biện pháp đó nếu không tin tưởng rằng sẽ nhận được đa số trong Nghị viện bầu lại. Vì sự ổn định của mình, Chính phủ buộc phải quan tâm đến sự ổn định trong Nghị viện.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét